Gừng và những lợi ích gừng mang lại

Gừng và những lợi ích gừng mang lại

 Gừng có vị cay, tính ấm, vào 3 kinh phế, tỳ, vị, có tác dụng phát biểu, tán hàn ôn trung, tiêu đàm, hành thủy, giải độc. Trong hầu hết các thang thuốc Đông y, dù bệnh hàn hay nhiệt, hư hay thực, các thầy thuốc vẫn thường dùng từ 3 đến 5 lát gừng sống

Gừng

 1. Tên gọi khác: Can khương (vị thuốc), Sinh khương (vị thuốc).

 2. Tên tiếng Anh: Ginger, Ginger root, Zingiber.

 3. Tên khoa học: Zingiber officinale Roscoe 1807.

 -Các loài tương cận:

 -Nghệ :Curcuma longa Linnaeus.

 -Bạch đậu khấuAmomum costatum /A. subulatum.

 -Riềng: Alpinia officinarum.

 Phân loại khoa học

 Theo Hệ thống phân loại APG III (2009): 

 

Giới (Kingdom):

Thực vật (Plantae)

Ngành (Phylum):

Thực vật có hoa (Angiosperms)

Lớp (Class):

Một lá mầm (Monocots)

Phân lớp (Subclass):

Thài lài (Commelinids)

Bộ (Order):

Gừng (Zingiberales)

Họ (Family):

Gừng (Zingiberaceae)

Chi (Genus):

Gừng (Zingiber)

Loài (Species):

Zingiber  officinale

 

 Họ Gừng (Zingiberaceae), là một Họ thực vật thân thảo sống lâu năm với các thân rễ bò ngang hay tạo củ, bao gồm 47 chi và khoảng trên 1.000 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chủ yếu ở Nam và Đông Nam Châu Á.

 Nhiều loài là các loại cây cảnh, cây gia vị, hay cây thuốc quan trọng. Các thành viên quan trọng nhất của họ này bao gồm gừngnghệriềng, đậu khấu và sa nhân.

 Đặc trưng chung của các loài trong Họ gừng là thực vật tự dưỡng hay biểu sinh.

 -Thân rễ lớn, thường phân nhánh, chứa nhiều chất dự trữ.

 -Lá có các bẹ dài ôm lấy nhau làm thành thân giả, cuống ngắn và phiến lớn, giữa cuống và bẹ lá có phần phụ gọi là lưỡi bẹ (ligule).

 Thân lá thường có mùi thơm. Ở nhiều loài thân khí sinh chỉ xuất hiện khi cây ra hoa, mọc lên từ thân rễ, xuyên qua thân giả ra ngoài mang ở phần cuối 1 cụm hoa (chi Alpinia), nhưng có loài cụm hoa nằm ngay trên thân rễ ở sát mặt đất.

 -Hoa không đều, đài hình ống, màu lục, tràng hình ống, phía trên chia 3 thùy, thùy giữa lớn hơn hai thùy bên. Chỉ có một nhị sinh sản (ở vòng trong) với 2 bao phấn lớn nứt phía trong. Một cánh môi hình bản lớn, màu sặc sỡ, do 3 nhị dính với nhau và biến đổi thành, nằm đối diện với nhị sinh sản. Hai nhị còn lại biến thành hai nhị lép (vô sinh) nhỏ nằm 2 bên bao phấn (nhiều khi giảm chỉ còn lại những vảy nhỏ, hoặc mất hẳn). Bầu dưới có 3 ô, mỗi ô chứa nhiều noãn. Vòi nhụy chui qua khe hở giữa 2 bao phấn và thò ra ngoài. Quả nang, đôi khi là quả mọng. Hạt có nội nhũ và cả ngoại nhũ. Mô của các loại cây trong họ này tiết ra tinh dầu có mùi đặc trưng.

 Các Chi quan trọng trong Họ gừng (Zingiberaceae) gồm có:

 +Phân họ Alpinioideae

 -Tông Alpinieae

 Chi Alpinia - riềng

 Chi Amomum - đậu khấu

 Chi Elettaria - (tiểu) đậu khấu

 +Phân họ Zingiberoideae

 -Tông Zingibereae

 Chi Curcuma - nghệ

 Chi Zingiber - gừng

4. Phân bố

 Họ Gừng (Zingiberaceae), là một Họ thực vật thân thảo sống lâu năm với các thân rễ bò ngang hay tạo củ, bao gồm 47 chi và khoảng trên 1.000 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chủ yếu ở Nam và Đông Nam Châu Á.

 Chi Gừng (Zingiber) ở Châu Á có khoảng 45 loài, ở Việt Nam có 11 loài.
Gừng là loại cây gia vị cổ điển được trồng ở nhiều nước trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ Đông Á đến Đông Nam Á và Nam Á. Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản là những nước trồng Gừng nhiều nhất thế giới. Ở Việt Nam, cây được trồng ở khắp các địa phương, từ vùng núi cao đến đồng bằng và ngoài các hải đảo.

 Trong nhân dân hiện nay có nhiều loại: gừng trâu có thân to, củ to thường để làm mứt, có nhiều ở các vùng núi thấp; gừng gié có thân và củ đều nhỏ nhưng rất thơm. Cây ưa ẩm, ưa sáng. Cây trồng thường có hoa năm thứ 2. Chưa thấy cây có quả và hạt. Gừng trồng sau 1 năm nếu không thu hoạch sẽ có hiện tượng tàn lụi (phần trên mặt đất) qua đông. Thời gian sinh trưởng mạnh của cây trùng với mùa hè-thu nóng và ẩm. Gừng tái sinh dễ dàng bằng những đoạn thân rễ có nhú mầm, có thể trồng quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa xuân. Ra hoa vào mùa hạ và mùa thu.

 Gừng được trồng nhiều nơi ở Việt Nam. Ở miền nam có các tỉnh như Kiên Giang, Cà Mau...

5. Mô tả

 Thân cây gừng có hai dạng đó là thân ngầm (thường gọi là củ) và thân khí sinh.

 Thân rễ có khi phồng thành củ. Thân rễ (quen gọi là củ) không có hình dạng nhất định, phân nhánh trên một mặt phẳng, làm thành nhiều đốt, kích thước không đều, dài 3-7 cm, dày 0,5-1,5 cm, mặt ngoài màu trắng tro hay vàng nhạt, có vết nhăn dọc, ở đầu đốt có vết tích của thân cây đã rụng, trên các đốt có vết sẹo của các lá khô (vảy), vết bẻ màu trắng tro hoặc ngà vàng, lõi tròn rõ, mùi thơm, vị cay nóng.

 Đặc điển giải phẩu thân rể: Biểu bì gồm một lớp tế bào hình chữ nhật, nhỏ xếp tương đối đều đặn. Dưới lớp biểu bì là mô mềm vỏ gồm 5-6 lớp tế bào hơi dẹp, vách tẩm chất gỗ. Phía dưới lớp mô mềm vỏ này có khoảng 5 lớp bần. Mô mềm vỏ khuyết, tế bào tròn, vách mỏng, có thể bị bẹp lại và nhăn nheo đối với thân rễ già. Nội bì đai Caspary, trụ bì gồm 1 lớp tế bào kích thước không đều, có xu hướng bị ép dẹp bởi các bó libe gỗ nằm gần đó. Vòng nội bì và trụ bì gần như liên tục. Mô mềm tủy là những tế bào hình tròn, to hơn tế bào mô mềm vỏ. Rất nhiều bó libe gỗ tập trung thành 1 vòng sát trụ bì và rải rác khắp mô mềm vỏ và mô mềm tuỷ. Mỗi bó có 1-6 mạch gỗ, libe chồng lên gỗ. Tế bào tiết chứa tinh dầu màu vàng tươi rất nhiều trong mô mềm vỏ và tủy.

 Thân khí sinh: Cấu tạo từ nhiều bẹ lá ôm lấy lõi thân, là thân cỏ nhiều năm, cao khoảng 1 m.

 + Bẹ lá: Hình lưỡi liềm. Biểu bì trên hình đa giác, có kích thước lớn hơn biểu bì dưới. Mô mềm khuyết. Các bó mạch nhỏ, gồm từ 1-6 mạch gỗ, gỗ ở trên, libe ở dưới, các tế bào xung quanh hóa mô cứng. Tại đoạn có bó mạch, mô mềm và biểu bì bị ép dẹp. Ở bẹ lá ngoài cùng rải rác có biểu bì tiết.

 + Thân: vi phẫu hình bầu dục. Tế bào biểu bì hình chữ nhật, nhỏ. Dưới biểu bì là mô mềm khuyết hay đạo, tế bào hình tròn, vách mỏng. Trụ bì gồm 2-3 lớp tế bào uốn lượn tạo thành 1 vòng liên tục. Bên trong và ngoài vòng trụ bì có nhiều bó mạch gỗ nhỏ gồm từ 1-6 mạch gỗ, libe chồng lên gỗ. Các bó gỗ ngoài trụ bì thường có vòng mô cứng bao xung quanh, các bó phía trong thì không có. Mô mềm tủy đạo, tế bào đa giác hoặc chữ nhật, đôi khi có chừa các khuyết lớn.

 Ở bẹ lá và thân đều chứa rải rác tinh thể calci oxalat hình khối nhỏ, túi tiết và tế bào tiết rải rác trong vùng mô mềm.

 + Lá:Lá không cuống, mọc so le thành 2 dãy, hình ngọn giáo, thắt lại ở gốc, đầu nhọn dài 15-20 cm, rộng 2 cm, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt; gân lá song song. Bẹ nhẵn, có thể ôm vào nhau thành một thân giả. Lưỡi nhỏ dạng màng, nhẵn, chia 2 thùy cạn.

 Giải phẩu lá: Mặt trên lõm, mặt dưới lồi, tế bào biểu bì hình đa giác, biểu bì dưới nhỏ hơn biểu bì trên, biểu bì tiết có cả ở 2 mặt. Mô mềm khuyết. Nhiều bó mạch xếp thành hàng, gỗ ở trên, libe ở dưới, vòng mô cứng nằm dưới libe. Bó gỗ ở gân giữa là lớn nhất và nhỏ dần về 2 phía. Túi tiết và tế bào tiết rải rác trong vùng mô mềm. Ở 2 bên phiến lá, dưới biểu bì trên có 1 lớp tế bào hạ bì lớn, không liên tục và 3 lớp mô mềm khá giống mô giậu, nhưng tế bào ngắn hơn. Trên biểu bì dưới cũng có 1 lớp hạ bì.

 Biểu bì lá: Cả 2 mặt đều có lỗ khí nhưng biểu bì dưới có nhiều hơn, lỗ khí kiểu 1 lá mầm, các tế bào bạn có dạng hình chữ nhật ngắn hay lục giác. Biểu bì trên xếp đều đặn và thẳng hàng hơnbiểu bì dưới.

6. Thành phần hóa học

 Theo phân tích của Bộ Nông nghiệp Mỹ:

Thành phần

Trong 100 g củ gừng tươi

Trong 100 g củ gừng khô

Năng lượng

       333 kJ (80 kcal)

1.404 kJ (336 kcal)

Carbohydrates

17,77 g

71,62 g

Đường

1,70 g

3,39 g

Chất xơ thực phẩm

2,0 g

14,1 g

Fat

0,75 g

4,24 g

Protein

1,82 g

8,98 g

Vitamin A

0 IU

30 IU

Vitamin C

5,0 mg (6%)

0,7 mg (1%)

Photpho

34 mg (5%)

168 mg (24%)

Kali

415 mg (9%)

1320 mg (28%)

 Nguồn: USDA Cơ sở dữ liệu dinh dưỡng.

 -Theo ghi nhận của Từ điển Bách khoa mở:Wikipedia, the free encyclopedia

 Các mùi đặc trưng và hương vị của gừng được gây ra bởi một hỗn hợp của zingeroneshogaols và Gingerols, tinh dầu dễ bay hơi chiếm1-3% trọng lượng của gừng tươi. Ở trong phòng thí nghiệm động vật, các Gingerols làm tăng nhu động của đường tiêu hóa và có tác dụng như thuốc giảm đau , thuốc an thần , hạ sốt và các đặc tính kháng khuẩn. Tinh dầu Gừng đã được chứng minh để ngăn ngừa ung thư da ở chuột và một nghiên cứu tại Đại học Michigan đã chứng minh rằng Gingerols có thể tiêu diệt tế bào ung thư buồng trứng. Hợp chất [6]-gingerol (1-[4'-hydroxy-3'-metoxyphenyl]-5-hydroxy-3-decanone) là thành phần chính tạo mùi hăng của gừng. Tiềm năng chất chemopreventive [6]-gingerol tyrong củ gừng là một chất thay thế đầy hứa hẹn trong tương lai để thay thế các loại thuốc trị liệu ung thư đắt tiền và độc hại.

 Gừng chứa đến 3% tinh dầu có mùi thơm với thành phần chính là sesquiterpenoids, với (-)-zingiberene là thành phần chính. Số lượng nhỏ hơn của chất sesquiterpenoids khác ( β-sesquiphellandrene , bisabolene và farnesene ) và một phần nhỏ chất monoterpenoid ( β-phelladrene , cineol ,citral ) cũng đã được xác định.

 Hương vị cay nồng của gừng là do Nonvolatile phenylpropanoid có nguồn gốc từ các hợp chất, đặc biệt là Gingerols và shogaols , tạo thành từ Gingerols khi gừng được sấy khô hoặc nấu chín. Zingerone cũng được sản xuất từ Gingerols trong quá trình này, hợp chất này là ít hăng hơn và có mùi thơm cay ngọt. Gừng cũng là một chất kích thích hóa học nhẹ, và đã được  sử dụng bởi các nhà quân sự Châu Âu trước Thế chiến I bằng cách nhét bột gừng vào hậu môn ngựa chiến để kích thích chúng hăng lên trong chiến trận gọi là những “Trung đoàn ngựa chiến feaguing”.

 Ngoài ra gừng còn có tác động kích thích tuyến nước bọt “sialagogue” làm tăng  sản xuất nước bọt nhiều hơn, làm cho việc nuốt dễ dàng hơn, giúp người già ăn uống dể dàng hơn.

 Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Ginger

 -Theo Bộ môn thực vật-Khoa dược-Đại học Y Dược TP.HCM

 Thành phần hóa học của Gừng như sau:

 Gừng chứa 2-3% tinh dầu với thành phần chủ yếu là các hợp chất hydrocarbon sesquiterpenic: β-zingiberen (35%), ar-curcumenen (17%), β-farnesen (10%) và một lượng nhỏ các hợp chất alcol monoterpenic như geraniol, linalol, borneol.

 Nhựa dầu chứa 20-25% tinh dầu và 20-30% các chất cay. Thành phần chủ yếu của nhóm chất cay là zingeron, shogaol và zingerol, trong đó gingerol chiếm tỷ lệ cao nhất. Ngoài ra, trong tinh dầu Gừng còn chứa α-camphen, β-phelandren, eucalyptol và các gingerol. Cineol trong Gừng có tác dụng kích thích khi sử dụng tại chỗ và có tác dụng diệt khuẩn trên nhiều vi khuẩn.

7. Công dụng của cây gừng

+ Theo Đông y

 Gừng có vị cay, tính ấm, vào 3 kinh phế, tỳ, vị, có tác dụng phát biểu, tán hàn ôn trung, tiêu đàm, hành thủy, giải độc. Trong hầu hết các thang thuốc Đông y, dù bệnh hàn hay nhiệt, hư hay thực, các thầy thuốc vẫn thường dùng từ 3 đến 5 lát gừng sống. Ngoài tác dụng hạn chế bớt tính lạnh của các vị thuốc hàn, cách phối hợp này còn giúp cho tỳ vị dễ hấp thu thuốc và người bệnh khỏi nôn ra đối với những thuốc khó uống. Ngoài ra tùy theo hình thức sử dụng, gừng có nhiều công dụng khác nhau.

 Gừng sống còn gọi là sinh khương có tác dụng phát tán phong hàn, chống nôn ói. Gừng khô còn gọi là can khương, có tính nóng hơn sinh khương, có thể làm ấm tỳ vị. Gừng đốt cháy tồn tính còn gọi là hắc khương. Hắc khương có vị đắng, thường được tẩm đồng tiện, có thể làm ấm can thận, giáng hư hỏa. Vỏ gừng được gọi là khương bì có tác dụng lợi tiểu. Trong kỹ thuật bào chế, gừng cũng có thể giúp cho thầy thuốc đạt được một số mục đích quan trọng. Sinh địa nấu với gừng sẽ hạn chế bớt tính mát. Bán hạ chế với gừng để giải độc. Một số loại thuốc khác như sâm, đinh lăng... cũng thường được tẩm gừng, sao qua để tăng tính ấm và dẫn vào phế vị.

 - Ở Trung Quốc, gừng được bao gồm trong một số toa thuốc truyền thống . Một thức uống gồm củ gừng thái lát nấu nước với đường nâu hoặc với nước cola được sử dụng như một loại thuốc dân gian để trị bệnh cảm lạnh thông thường. Người Trung Quốc cũng làm một loại kẹo gừng khô được lên men trong nước ép mận có đường, thường được dùng để ngăn chặn bệnh ho. Trong lịch sử Y học Trung Quốc cũng đã dùng gừng để điều trị viêm, nhưng một số nghiên cứu khoa học hỗ trợ, cho thấy gừng trị bệnh viêm khớp không có tốt hơn so với các loại tân dược hiện đại.

 - Ở Mianma, gừng và chất tạo ngọt địa phương được làm từ nước cốt trái cây cọ (htan nyat ) được đun sôi với nhau và được dùng để phòng ngừa cúm. Gừng là vị thuốc chính trong các bài thuốc y học cổ truyền.

 - Ở Congo, gừng nghiền nát và trộn với nhựa cây xoài để làm ra thuốc tangawisi nước, được coi là một thuốc chữa bách bệnh.

 - Ở Ấn Độ, gừng xắt lát được dán lên trán để làm giảm đau đầu, và được sử dụng để ăn khi bị cảm lạnh thông thường. Gừng với chanh muối chanh cũng được sử dụng chống buồn nôn.

 - Ở Indinesia gừng được dùng để chống mệt mỏi, ngăn ngừa và chữa trị bệnh thấp khớp và kiểm soát thói quen ăn uống nghèo dưỡng chất.

 + Theo Tây y

 Các nghiên cứu sơ bộ trong Tây y cho biết:

 Nghiên cứu sơ bộ cho thấy 9 hợp chất tìm thấy trong gừng có thể liên kết với các thụ thể serotonin của con người có thể ảnh hưởng đến chức năng đường tiêu hóa .

 Nghiên cứu thực hiện trong thử nghiệm in vitro cho thấy chiết xuất từ gừng có thể kiểm soát số lượng các gốc tự do và peroxy lipid.

 Nghiên cứu sơ bộ liên quan đến tác dụng của gừng trên buồn nôn xảy ra khi mang thai cho thấy rằng uống gừng có thể gây ra ợ hơi sau khi ăn.

 Trong một nghiên cứu năm 2010, tiêu thụ hàng ngày của gừng đã được hiển thị để giúp giảm đau cơ bắp kết hợp với tập thể dục 25%.

 Gừng đã được xác định trong một nghiên cứu để giúp làm giảm các dấu hiệu viêm đại tràng do PGE2, do đó cho thấy một biện pháp ngăn ngừa ung thư ruột kết.

 Trong các nghiên cứu hạn chế, gừng đã được tìm thấy có hiệu quả hơn so với thuốc chống buồn nôn do say sóng , ốm nghén và hóa trị liệu, mặc dù gừng không được tìm thấy tác dụng cao hơn giả dược (Placebo) khi điều trị buồn nôn sau phẫu thuật

 Các nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng gừng có tác động đến bệnh viêm khớp  hoặc có máu loãng và giảm cholesterol, nhưng những hiệu ứng này vẫn chưa được xác nhận.

 Trong nghiên cứu sơ bộ gừng có tác dụng ngăn đục thủy tinh thể do bệnh tiểu đường thông qua các cơ chế antiglycating.

 Chất Zingerone trong gừng có hoạt động chống trực khuẩn Escherichia coli gây ra bệnh tiêu chảy.

 Ở Hoa Kỳ, gừng được sử dụng để ngăn chặn say sóng do tàu, xe và chống buồn nôn khi phụ nữ ốm nghén. Nó được công nhận là an toàn bởi Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm và được bán như là một  chế độ ăn uống bổ sung không được kiểm soát. Nước gừng cũng được sử dụng để tránh chuột rút do nhiệt do vận động thể thao.

Một số bài thuốc từ cây gừng

1- Ngừa cảm lạnh sau khi phải dầm mưa nhiều giờ:

 Gừng sống 20g, giã nát, bỏ vào 1 ly nước sôi hoặc trà nóng cho đường vừa đủ ngọt để dễ uống, uống lúc còn nóng ngay khi vừa về tới nhà. (theo BS. Phan Xuân Trung).

2- Chữa ngoại cảm lạnh do lạnh (nấu cháo cảm):

 Gừng sống 10g, hành lá 10g, tiêu sọ 10 hạt. Gạo tẻ 1 nắm nấu cháo, lúc sắp bắt xuống cho gừng sống (xắt nhuyễn) hành lá (cắt ngắn) và tiêu sọ (đâm nát) vào quậy đều. Ăn cháo lúc còn nóng. Ăn xong đắp chăn cho ra mồ hôi. (theo BS. Phan Xuân Trung).

3- Chữa trúng hàn đi tả hoặc phong hàn gây tê thấp, ho suyễn, tay chân móp lạnh:

 Gừng khô tán nhỏ 5g, hòa với nước ấm hoặc nước cháo nóng mà uống. (theo BS. Phan Xuân Trung).

4- Chữa nôn mửa khi đi tàu xe:

 Gừng sống cắt lát mỏng. Ngậm gừng sống nhấm nháp từng chút một, nuốt nước dần cho tới khi hết nôn. (theo BS. Phan Xuân Trung).

5- Chữa mất tiếng hoặc khan tiếng:

 Củ cải trắng 2 củ, gừng sống 7 lát. Rửa sạch, giã nhuyễn vắt lấy nước cốt uống làm 2 hoặc 3 lần trong ngày. (theo BS. Phan Xuân Trung).

6- Chữa buồn nôn trong thời kỳ có thai:

 Gừng sống 20g, giã nát hoặc khoảng 8g bột gừng khô. Bỏ gừng vào một ly nước sôi hoặc nước trà nóng, có thể thêm một chút đường cho dễ uống. (theo BS. Phan Xuân Trung).

7- Chữa trúng gió, tay chân tê, choáng váng, đột nhiên nói khó, liệt một bên:

 Gừng sống 40g, đồng tiện 80cc. Gừng sống giã nát, cho vào một ít nước sôi, vắt lấy nước, hòa với đồng tiện uống lúc đồng tiện còn ấm.

 Đồng tiện tính mát, dưỡng âm, có thể trừ phong, tan được huyết ứ, giáng hư hoả. Đồng tiện là nước tiểu "giữa dòng" của bé trai từ 2 đến 10 tuổi. Trên thực tế, để tranh thủ thời gian lúc cấp cứu, có thể sử dụng nước tiểu của người thân trong gia đình có sẳn lúc đó. Bỏ đoạn đầu, bỏ đoạn cuối, chỉ lấy đoạn giữa. Với chức năng phát tán khí huyết ra bì phu và tay chân, giáng khí, hành huyết, tiêu ứ, làm nhẹ áp lực ở vùng ngực và vùng đầu, bài thuốc "sinh khương đồng tiện” còn được kinh nghiệm dân gian sử dụng trong một số bệnh tim mạch như cơn đau vùng tim, cao huyết áp trong điều kiện không tiếp cận được thầy thuốc.

 Tuy nhiên, điều cần nhớ là các triệu chứng trúng phong hoặc tim mạch không bất chợt xảy đến mà thường bắt nguồn từ những sự mất cân bằng trước đó của cơ thể. Chẳng hạn dương hư hàn thịnh, đàm trọc, huyết ứ, khí trệ… Do đó sau khi giải toả các triệu chứng cấp thời, người bệnh cần đến thầy thuốc chuyên môn để được thăm khám và điều trị thích hợp nhằm ổn định sức khoẻ lâu dài.

 Cuối cùng, cũng nên nhắc lại một kinh nghiệm dân gian rất hữu ích và có thể xem như một biện pháp dưỡng sinh là ăn 1-2 lát gừng sống sau mỗi bữa ăn. Gừng sống vừa giúp kích thích tiêu hóa vừa làm mất đi những mùi thức ăn để lại trong miệng. Ngoài ra, tác dụng "hành khí" của gừng còn tác động tới sự lưu thông của khí huyết, ảnh hưởng tốt đến hệ tim mạch.

Chú ý:Gừng khô có tính nóng nên những người có thể tạng nhiệt hoặc đang có các chứng viêm nhiễm không nên dùng. (theo BS. Phan Xuân Trung).

8- Phục hồi sức khỏe sau khi bị bệnh lị vi khuẩn mạn tính

 Gừng tươi 30gr đem rửa sạch, sau khi giã nhỏ, cho thêm chút nước vào đun sôi kỹ, để nước gừng còn ấm sẽ lấy khăn mặt khô sạch nhúng vào đó, vắt sơ sơ khăn rồi rửa và lau chùi khắp người, nhất là rửa và lau chùi nhiều ở bộ phận bụng ngực.

 Gừng tươi tính ôn nhiệt, có tác dụng rất tốt đối với bệnh về đường ruột. Tắm rửa, lau người bằng nước đun nói trên vừa có thể trừ được hàn, thấp, lại có thể cải thiện được tuần hoàn huyết dịch, tăng cường sức chống bệnh, giúp ích cho việc phục hồi sức khỏe sau khi bị bệnh lị vi khuẩn mạn tính. (theo PTS dược học - BS Nguyễn Ninh Hải).

9- Làm ấm tỳ thận, dẫn khí lưu thông và giảm đau

  Lấy gừng tươi rửa sạch, thái mỏng 9gr và phụ tử 9gr, đem rang sơ qua, hành 300gr, muối 250gr. Nghiền vụn gừng và Phụ tử rang, đắp lên rốn, ngoài băng giữ cố định. Lại lấy muối, hành cho vào nồi rang nóng, cho vào trong túi vải sạch đem là, chườm lên trên đó. Gừng và Phụ tử đã rang đều là vị thuốc có tính ôn nhiệt tốt, dùng để đắp lên rốn, sau đó lại dùng túi hành và muối đã rang để là, chườm, có thể phát huy được tác dụng làm ấm tỳ thận, dẫn khí lưu thông và giảm đau. (theo PTS dược học - BS Nguyễn Ninh Hải).

Tags: cốm gừng đông trùng hạ thảo, đông trùng hạ thảo là gì

Bình chọn bài viết:
Bài viết xem thêm
Lợi ích bất ngờ từ việc uống trà gừng với sức khỏe

Lợi ích bất ngờ từ việc uống trà gừng với sức khỏe

Trà gừng là một loại thức uống rất phổ biến trong đời sống thường ngày, có tác dụng tốt cho sức khỏe, nhất là đối với nữ giới. Thức uống ấm nóng này không đơn giản chỉ có thể làm ấm cơ thể mà còn có nhiều tác dụng khác đối với sức khỏe.

Điều gì xảy ra với cơ thể nếu bạn ăn gừng mỗi ngày trong vòng một tháng?

Điều gì xảy ra với cơ thể nếu bạn ăn gừng mỗi ngày trong vòng một tháng?

Gừng là loại gia vị quen thuộc mang lại nhiều lợi ích sức khỏe đáng kể. Vậy điều gì xảy ra với cơ thể khi bạn ăn gừng mỗi ngày trong vòng một tháng?

6 sai lầm khi ăn gừng gây hại cho sức khỏe, bạn cần tránh

6 sai lầm khi ăn gừng gây hại cho sức khỏe, bạn cần tránh

Gừng có rất nhiều lợi ích sức khỏe nếu sử dụng đúng cách. Tuy nhiên, rất nhiều người đã mắc sai lầm khi sử dụng gừng trong ăn uống cũng như làm thuốc chữa bệnh.

Điều gì xảy ra nếu bạn uống trà gừng mỗi ngày?

Điều gì xảy ra nếu bạn uống trà gừng mỗi ngày?

Trà gừng không chỉ là một đồ uống thơm ngon mà còn mang lại nhiều lợi ích đáng kinh ngạc. Dưới đây là một số lợi ích cho cơ thể nếu bạn duy trì thói quen uống trà gừng mỗi ngày.

Gừng khô và gừng tươi: loại nào tốt hơn?

Gừng khô và gừng tươi: loại nào tốt hơn?

Gừng là loại gia vị phổ biến được sử dụng trong ẩm thực cũng như dùng làm thảo dược chữa bệnh. Tuy nhiên, giữa gừng tươi và gừng khô, loại nào tốt cho sức khỏe hơn?

Thành phần dinh dưỡng và tác dụng của cây gừng gió

Thành phần dinh dưỡng và tác dụng của cây gừng gió

Thành phần dinh dưỡng và tác dụng của cây gừng gió

Gừng và những lợi ích gừng mang lại

Gừng và những lợi ích gừng mang lại

Gừng có vị cay, tính ấm, vào 3 kinh phế, tỳ, vị, có tác dụng phát biểu, tán hàn ôn trung, tiêu đàm, hành thủy, giải độc. Trong hầu hết các thang thuốc Đông y, dù bệnh hàn hay nhiệt, hư hay thực, các thầy thuốc vẫn thường dùng từ 3 đến 5 lát gừng sống

Yến sào là gì?

Yến sào là gì?

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, Yến Sào có giá trị dinh dưỡng rất cao, giàu protein, chứa nhiều acid amin và khoáng chất có lợi cho sức của con người. Đây đều là những nguyên tố cần thiết cho cơ thể nhưng lại không thể tự tổng hợp được. Vậy yến sào là gì? Công dụng của yến sào như thế nào? Hãy cùng Hoàng Linh Biotech tìm hiểu trong bài viết này nhé!

Phân biệt Đông Trùng Hạ Thảo tự nhiên và nhân tạo

Phân biệt Đông Trùng Hạ Thảo tự nhiên và nhân tạo

Đông trùng hạ thảo ai cũng biết đó là loại thảo dược vô cùng tốt cho sức khỏe và giá cả thì vô cùng đắt đỏ với giá trị lên tới hàng tỷ đồng . Hiện nay có hai loại đông trùng hạ thảo đó là đông trùng hạ thảo tự nhiên và đông trùng hạ thảo nhân tạo.Trước khi tìm hiểu loại nào tốt hãy cùng tìm hiểu điều kiện sinh trưởng của hai loại này

Cà phê là gì?

Cà phê là gì?

Đồn điền cà phê đầu tiên được lập ở Việt Nam là do người Pháp khởi sự ở gần Kẻ Sở, Bắc Kỳ vào năm 1888. Giống cà phê arabica (tức cà phê chè) được trồng ở ven sông. Sau việc canh tác cà phê lan xuống vùng Phủ Lý, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Kon Tum và Di Linh. Năm 1937-1938 tổng cộng trên lãnh thổ Việt Nam có 13.000 ha cà phê, cung ứng 1.500 tấn.[11] Hiện tại, Việt Nam có 3 loại cà phê chính, đó là cà phê chè (arabica), cà phê vối (robusta), cà phê mít (lyberica).

Cách Sử Dụng Đông Trùng Hạ Thảo

Cách Sử Dụng Đông Trùng Hạ Thảo

Trên đây là thông tin Công ty Hoàng Linh Biotech về Đông Trùng Hạ Thảo. Mong rằng những thông tin trong bài viết này sẽ giúp bạn có thể hiểu hơn về Đông Trùng Hạ Thảo. Đừng bỏ qua loại thực phẩm này vì chúng giúp chúng ta rất nhiều trong cuộc sống !

GẠO LỨT TÍM

GẠO LỨT TÍM

Gạo lứt tím là loại gạo có nguồn gốc từ Nhật Bản. Hạt gạo có màu đen như mực. Khi nấu chín, cơm có màu tím đậm. Gạo tím còn được gọi là gạo đen, gạo cấm hay gạo hoàng đế. Tương truyền rằng từ xa xưa, gạo tím chỉ dành để dâng lên các đời hoàng đế cổ đại của Trung Quốc. Điều này có thể là do gạo tím rất hiếm, khó trồng và chăm sóc.

0
Tư vấn miễn phí 028.3889.3868

1
Chat với Hoàng Linh Biotech!